Viết về người cha già kính yêu của dân tộc
Thứ Ba, ngày 10 tháng 11 năm 2020 - 8:22
Lúc Việt Nam đang còn chìm trong bóng đêm dày đặc của chế độ phong kiến đã lỗi thời, lúc đất nước ta đang bị thực dân Pháp xâm lược và những phong trào của những sĩ phu yêu nước như Phan Bội Châu, Phan Châu Trinh…lần lượt thất bại thì Người xuất hiện như một làn gió mới thổi vào cuộc đấu tranh của nhân dân ta.

 Người sinh ra trong một gia đình giàu lòng yêu nước. Thân sinh của Người là Phó bảng Nguyễn Sinh Sắc, là một nhà nho ái quốc. Chính vì hoàn cảnh gia đình như thế mà đã ảnh hưởng rất nhiều đến tư tưởng của Người. Sống trong thời điểm ấy Người đã nhận ra được sự tàn ác, dã tâm xâm lược của thực dân Pháp, Người đã thấy được sự khốn cùng của kiếp người-những người dân lao động. Người không hoàn toàn tán thành cách làm của những sĩ phu yêu nước trong giai đoạn này và cuối cùng vào ngày 5-6-1911 Người đã bắt đầu hành trình cứu nước của mình trên con tàu đô đốc La-tu-so To-re-vin. Kể từ giờ phút này, trái tim của Người đã thật sự hoà nhịp với trái tim của những người dân An Nam, với những người dân ở các nước thuộc địa đang sống trong sự thống khổ - trái tim mong ước hoà bình và hạnh phúc cho nhân loại. Giờ đây, Người đang sống cho cả dân tộc Việt Nam – một dân tộc mà trong lịch sử không bao giờ chịu khuất phục trước giặc ngoại bang. Chính nguồn gốc lịch sử oai hùng ấy, chính dòng máu của người dân Việt Nam ấy đã nung đúc nên một con người mà tương lai sẽ trở thành ngọn đuốc soi đường cho dân tộc bước qua muôn vàn thử thách.

Trước tình cảnh đất nước lâm nguy, Người đã không tiếc gì đến bản thân của mình, dấn thân vào hành trình cứu nước đầy gian nan và nguy hiểm nơi xứ người. Nhưng chắc rằng sự căm hờn quân xâm lược, tình yêu nước thương nòi vô bờ bến đã thúc giục Người vững bước hơn trên con đường phía trước. Rõ ràng là ta có thể thấy, tư tưởng của Người rất tiến bộ, Người đã không đi theo con đường của những tiền nhân trước để lại, Người cũng không nóng vội trong quá trình tổ chức đấu tranh chống lại quân Pháp. Chắc rằng, Người đã tiếp thu và đúc kết cho mình những kinh nghiệm quý báu về giải phóng dân tộc. Và thế rồi trên bến Nhà rồng hướng về biển khơi, một con đường mới đang mở ra trước mắt Người và thúc giục Người tiến về phía trước. Người ra đi nhưng vẫn văng vẳng bên tai tiếng than khóc của những người dân đang sống dưới gót giày tàn bạo của kẻ thù và chắc chắn rằng những điều ấy càng củng cố thêm lòng quyết tâm giải phóng dân tộc của Người.

Người đã đi qua nhiều nước, làm nhiều nghề để sinh sống và tìm con đường cho dân tộc mình. Đến năm 1917 Người trở về Pháp. Năm 1919, tại hội nghị Vecxai, Người dâng "bản yêu sách của nhân dân An Nam" đòi quyền lợi cho dân tộc nhưng không được hội nghị chấp nhận. Chính sự kiện này đã làm cho cái tên Nguyễn Ái Quốc được thế giới trong thời điểm này biết đến. Tinh thần yêu nước của Người đã được kết tinh trong văn bản ấy. Dẫu bị bác bỏ nhưng rõ ràng nó đã gây được tiếng vang. Sau đó Người vẫn tham gia vào các hoạt động khác trên đất Pháp. Năm 1925, như một sự thiên định, Người đã đọc được tác phẩm "Luận cương các vấn đề dân tộc và vấn đề thuộc địa" của V.Lê-nin. Người đã nói rằng "Luận cương của Lênin làm cho tôi rất cảm động, phấn khởi, sáng tỏ, tin tưởng biết bao. Tôi vui mừng đến phát khóc lên. Ngồi một mình trong buồng mà tôi nói to lên như nói trước quần chúng đồng bào: Hỡi đồng bào bị đày đọa, đau khổ, đây là cái cần thiết cho chúng ta, đây là con đường giải phóng chúng ta". Người đã tìm được cái mà mình tìm kiếm bao nhiêu lâu. Sự kiên trì, cố gắng của Người đã đem đến cho dân tộc ta một sự hy vọng rất lớn vào sự đổi mới của cách mạng Việt Nam. Thật là cảm động, những lời nói của Người càng làm nổi bật lên tình cảm của Người dành cho đồng bào, cho đất nước. Những lời nói ấy mộc mạc đơn sơ nhưng chân thành, sâu sắc thể hiện được một cốt cách của một vĩ nhân. Sự khát khao của Người cuối cùng đã đạt thành. Từ đây, trách nhiệm của Người sẽ càng nặng nề hơn nhưng hơn bao giờ hết trong lòng Người đang bùng cháy lên một niềm tin – niềm tin về sự chiến thắng dành cho chính nghĩa.

Trong lòng Người bất cứ lúc nào cũng nghĩ về đồng bào, về quê hương, Người luôn tin tưởng một ngày nào đó có thể quay trở về đất nước, lãnh đạo cuộc kháng chiến của nhân dân ta hay đơn giản chỉ là góp phần vào chiến thắng của dân tộc. Người đã trở thành người cộng sản đầu tiên của nước ta khi gia nhập vào Quốc tế cộng sản và trở thành người có vai trò rất quan trọng. Sau đó, Người tiếp tục thành lập Hội Việt Nam cách mạng thanh niên-tiền thân của Đảng Cộng sản Việt Nam, với báo Thanh niên là cơ quan ngôn luận của Hội, góp phần truyền bá những tư tưởng tiến bộ vào đất nước. Tiếp đó, Người đã hợp nhất ba tổ chức Đảng: Đông Dương cộng sản Đảng, An Nam Cộng Sản Đảng và Đông Dương cộng sản liên Đoàn thành Đảng Cộng sản Việt Nam. Người đã lãnh đạo Đảng và nhân dân hoàn thành cuộc Cách mạng tháng Tám năm 1945, tiếp sau đó là lãnh đạo đi đến thắng lợi cuộc kháng chiến chống thực dân Pháp kéo dài chín năm. Chín năm, biết bao nhiêu mất mát, biết bao nhiêu sự hi sinh nhưng hơn bao giờ, hơn ai hết, Người hiểu được giá trị của hai tiếng "độc lập". Chỉ có độc lập mới có tự do và hạnh phúc. Người đã sống cùng nhân dân, thức trắng đêm, chịu thương chịu khó và cùng chiến sĩ hưởng những phút giây hạnh phúc khi quân ta giành thắng lợi trong một trận chiến nào đó. Người chính là sức mạnh cho quân và dân cố gắng phấn đấu để hướng đến tương lai tốt đẹp hơn.

Đó là những nét son chói lọi trong sự nghiệp của Người-một người dân An Nam không cam tâm chịu cuộc đời nô lệ, sống hèn yếu trước kẻ thù. Một tinh thần yêu nước nồng nàn càng mạnh mẽ khi gặp khó khăn. Tất cả đã tạo nên một Hồ Chí Minh vĩ đại. Người là tượng đài bất diệt của dân tộc Việt Nam không những thế hệ này mà biết bao thế hệ sau vẫn biết, vẫn nhớ đến Người.

Sự nghiệp của Người càng vẻ vang, tên tuổi của Người bay xa đến tận cùng thế giới. Người là hình ảnh của một dân tộc gan góc, kiên cường. Nhưng khi người ta nhắc đến Người không phải chỉ là nhắc đến sự nghiệp mà còn là một cuộc đời thanh cao trên cương vị Chủ tịch nước.

Có thể với cương vị Chủ tịch nước, Người có thể xây dựng cho mình một phủ chủ tịch không thua gì một nguyên thủ quốc gia nào trên thế giới, có thể may cho mình những bộ trang phục lộng lẫy để xứng tầm với người đứng đầu đất nước. Nhưng sự thật càng làm cho chúng ta (không chỉ chúng ta mà con cả những người trên thế giới) ngạc nhiên đó là nơi ở của Người chỉ là một ngôi nhà sàn bên cạnh một ao cá, quần áo Người mặc chỉ là những bộ quần áo đã bạc màu, đôi dép cũng là đôi dép lốp cao su. Cuộc đời Người sao mà đơn sơ như vậy. Chắc hẳn rằng trong mỗi chúng ta đều biết ít hay nhiều những mẫu chuyện về Người. Riêng tôi, những mẫu chuyện của Người làm tôi phải suy nghĩ rất nhiều. Người không phải làm những điều như thế với những mục đích giả tạo, không phải làm như thế để được tiếng tăm mà đơn giản là Người nghĩ cho nhân dân. Có lần nhiều người định may cho Người một chiếc áo mới hơn nhưng Người không chịu và nói rằng đồng bào còn đói rét thì Người mặc như thế này cũng đã đủ rồi. Những lời nói của Người làm tôi vô cùng cảm động. Còn nhớ lúc Người đọc Tuyên ngôn độc lập tại quảng trường Ba Đình lịch sử, Người cũng đã xuất hiện trước toàn thể đồng bào trong một bộ trang phục rất giản dị, lời nói trầm ấm. Phải chăng chính những điều ấy đã tạo nên sức mạnh cho cả dân tộc? Một sức mạnh mà khi kẻ thù rút chạy vẫn đang ở trong trạng thái vừa kinh hoàng vừa khâm phục. Dù cho như thế nào đi nữa thì chính những điều ấy đã tạo nên vẻ đẹp tâm hồn của Người.

Cuộc đời Người là một chuỗi dài gian khổ, từng phút từng giờ đều nghĩ đến đất nước. Thế nhưng trong lòng Người luôn tràn đầy sự lạc quan yêu đời của một người cộng sản. Khi Người bị quân Tưởng bắt giam, bị di chuyển từ nhà ngục này đến nhà ngục khác, dù sống trong khổ ải nhưng Người vẫn vững một niềm tin rằng một ngày nào đó Người sẽ được tự do, Người sẽ lại thực hiện lý tưởng cao đẹp của mình.

"Thân thể ở trong lao

Tinh thần ở ngoài lao

Muốn nên sự nghiệp lớn

Tinh thần phải càng cao"

Người đã hi sinh hạnh phúc của bản thân để lo cho đất nước. Người đã không lập gia đình, dù biết rằng sẽ cảm thấy cô đơn trong bóng xế chiều tà.

"Quyện điểu quy lâm tầm túc thụ

Cô vân mạn mạn độ thiên không

Sơn thôn thiếu nữ ma bao túc

Bao túc ma hoàn lô dĩ hồng"

Đó là bài thơ Chiều tối của Người. Hình ảnh thiếu nữ xay ngô và lò than rực hồng cũng có thể nói lên ước mơ thầm kín của Người về cuộc sống gia đình. Có thể là như vậy nhưng dù thế nào thì Người vẫn đặt nợ nước trước tình nhà. Cuộc đời của Người sống có tình nghĩa, thương yêu dân, chiến sĩ như những người ruột thịt. Vì thương những anh chiến sĩ, Người đã lấy tiền lương của mình mua nước ngọt cho bộ đội phòng không. Không những thế, Người luôn chăm chút cho mùa xuân của đất nước-những em thiếu niên nhi đồng. "Non sông Việt Nam có trở lên tươi đẹp hay không, dân tộc Việt Nam có bước tới đài vinh quang để sánh vai với các cuơng quốc năm châu được hay không, chính nhờ một phần lớn ở công họ tập của các em". Đó như là những lời nhắn nhủ chân thành nhất mà Người dành  cho những thế hệ tương lai.

Trong lời di chúc của Người, Người đã dành cho toàn Đảng, toàn dân ta những lời chỉ bảo chân thành. Người nói về Đảng, về xây dựng đất nước, những lời yêu thương dành cho nhân dân miền nam ruột thịt. Những lời di chúc ấy vẫn còn giá trị nguyên vẹn cho đến ngày hôm nay như ngọn nến chỉ đường cho dân tộc suốt hơn bốn mươi năm xây dựng và bảo vệ tổ quốc Việt Nam Xã hội chủ nghĩa.

Dù Người đã ra đi, dù sự ra đi của Người để lại một khoảng trống quá lớn cho toàn dân tộc nhưng hình ảnh và những tư tưởng, lời dạy của Người luôn được hàng triệu triệu trái tim người Việt Nam ghi khắc mãi mãi. Ngọn lửa cháy trong đêm tối năm xưa, ngọn lửa soi đường cho cho cả dân tộc bước qua đêm dài đau khổ ngày nào sẽ vẫn cháy, vẫn sáng đến ngàn sau

                                                                                                                                  (Nguồn sưu tầm)



Lượt xem: 78 views
Xem tin theo ngày:     Tháng:    Năm: