Bộ đội Cụ Hồ
Thứ Hai, ngày 12 tháng 12 năm 2016 - 7:44
Nhân dịp kỷ niệm 72 năm ngày thành lập Quân đội nhân dân Việt Nam (22/12/1944 – 22/12/2016) và 27 năm ngày hội Quốc phòng toàn dân (22/12/1989 – 22/12/2016), Ban Quản lý Quảng trường Nguyễn Tất Thành xây dựng và triển khai thực hiện nội dung chuyên đề: "Bộ đội Cụ Hồ", thể hiện tình cảm sâu sắc của Bác dành cho các thế hệ bộ đội Việt Nam qua những việc làm, hành động bình dị của Người.

 Sinh thời, Chủ tịch Hồ Chí Minh luôn mang trong mình lòng yêu nước, thương dân sâu sắc, cùng những sự trăn trở về vận mệnh dân tộc, bằng sự hiểu biết của bản thân, Người sớm nhận ra con đường do những người đi trước mở đường sẽ không giải phóng được dân tộc mà cần phải có con đường mới phù hợp với tình hình thực tế nước nhà, con đường mới ấy phải phù hợp với quy luật phát triển của lịch sử mới có thể giành được độc lập, tự do cho dân tộc. Chính vì suy nghĩ ấy đã  thôi thúc Chủ tịch Hồ Chí Minh ra đi tìm đường cứu nước và sớm đến với Chủ nghĩa Mác-Lênin, đến với con đường cách mạng.

Mùa xuân năm 1941, sau khi đi khắp năm châu bốn biển tìm đường cứu nước, Người đã về nước trực tiếp lãnh đạo phong trào cách mạng Việt Nam. Người cử đồng chí Võ Nguyên Giáp ở lại Trung Quốc học tập và căn dặn: “Chú Văn phải chú trọng thêm quân sự”.

- Ngày 19/5/1941, giữa vùng núi rừng Pắc Bó, theo sáng kiến của lãnh tụ Nguyễn Ái Quốc, Mặt trận Việt Minh ra đời giữa lúc nhân dân Việt Nam đang rên xiết trong cảnh một cổ hai tròng, vận mệnh dân tộc đang trong cảnh nước sôi lửa nóng.

- Tháng 10 năm 1941, lãnh tụ Nguyễn Ái Quốc giao nhiệm vụ cho các đồng chí Lê Thiết Hùng, Lê Quảng Ba, Hoàng Sâm có nhiệm vụ phối hợp với nhau cùng mở lớp huấn luyện quân sự tập trung đầu tiên tại Pắc Bó để tiến tới thành lập đội vũ trang cách mạng. Lúc này Người trực tiếp tham gia huấn luyện cho các đội viên. Để có tài liệu giảng dạy, Người đã biên soạn các tài liệu quân sự quan trọng như: “Mười điều kỷ luật”; “Cách đánh du kích”; “Những hiểu biết cơ bản về quân sự”; “Kinh nghiệm du kích Nga”…

- Tháng 5 năm 1944, Mặt trận Việt Minh cho ra mắt cuốn “Chiến thuật du kích” do Nguyễn Ái Quốc biên soạn.

Tháng 9 năm 1944, Người từ Trung Quốc trở lại Cao Bằng. Người xét thấy điều kiện chưa chín muồi nên quyết định tạm dừng việc phát động chiến tranh du kích trên quy mô lớn để tránh tổn thất cho cách mạng. Người chỉ rõ: “Bây giờ thời kỳ cách mạng hòa bình phát triển đã qua, nhưng thời kỳ toàn dân khởi nghĩa chưa tới. Nếu bây giờ chúng ta vẫn chỉ hoạt động bằng hình thức chính trị thì không đủ để đẩy mạnh phong trào đi tới. Nhưng phát động vũ trang khởi nghĩa ngay thì quân địch sẽ tập trung đối phó. Cuộc đấu tranh bây giờ phải từ hình thức chính trị tiến lên hình thức quân sự. Phải tìm một hình thức thích hợp thì mới có thể đẩy phong trào tiến lên”. Trong bối cảnh đó Người nhận định nếu chỉ có tuyên truyền chính trị sẽ khó thành công vì vậy người đã ra chỉ thị về việc thành lập một lực lượng vũ trang chủ lực, nòng cốt lấy từ các cán bộ chính trị, đội viên du kích năng nổ. Người chỉ định đồng chí Võ Nguyên Giáp đảm nhiệm công tác thành lập lực lượng vũ trang tập trung. Ngay chiều hôm sau, Người gặp đồng chí Võ Nguyên Giáp và đồng chí Lê Quảng Ba để thông qua kế hoạch thành lập đội. Người thêm hai chữ "Tuyên truyền" vào tên đội Việt Nam giải phóng quân và dặn: "Nhớ bí mật: Ta ở Đông, địch tưởng là ở Tây. Lai vô ảnh, khứ vô hình".

- Giữa tháng 12 năm 1944, một chỉ thị viết tay được bỏ trong vỏ bao thuốc lá của Người gửi  cho đồng chí Võ Nguyên Giáp. Đó là chỉ thị thành lập Đội Việt Nam tuyên truyền giải phóng quân. Chỉ thị gồm ba vấn đề chủ yếu: Một là, tên Đội Việt Nam tuyên truyền giải phóng quân nghĩa là chính trị trọng hơn quân sự. Nó là đội tuyên truyền, có nhiệm vụ dìu dắt cán bộ vũ trang các địa phương, giúp đỡ huấn luyện, giúp vũ khí, nếu có thể được, làm cho các đội này trưởng thành mãi lên. Nguyên tắc tổ chức lực lượng là sẽ chọn trong hàng ngũ du kích Cao - Bắc - Lạng số cán bộ và đội viên kiên quyết, hăng hái nhất và sẽ tập trung một phần lớn vũ khí để lập ra đội chủ lực... Hai là, đối với các đội vũ trang địa phương. Tập trung các cán bộ đưa đi huấn luyện rồi đưa về huấn luyện ở các địa phương, trao đổi kinh nghiệm, liên lạc thông suốt, phối hợp tác chiến... Ba là về chiến thuật: "vận dụng lối đánh du kích, bí mật, nhanh chóng, tích cực, nay Đông mai Tây, lai vô ảnh, khứ vô hình".

Và để thực hiện Chỉ thị của Chủ tịch Hồ Chí Minh, ngày 22 tháng 12 năm 1944, Đội Việt Nam tuyên truyền giải phóng quân (tiền thân của Quân đội Nhân dân Việt Nam ngày nay) ra đời ở khu rừng Trần Hưng Đạo (thuộc huyện Nguyên Bình, tỉnh Cao Bằng).  Đội Việt Nam tuyên truyền giải phóng quân gồm có 34 đội viên được biên chế thành một trung đội gồm 3 tiểu đội do đồng chí Hoàng Sâm làm đội trưởng, đồng chí Xích Thắng làm chính trị viên. Bác đã đặt trọn niềm tin khi trao sứ mệnh chỉ huy cho đồng chí Võ Nguyên Giáp. Ngay từ khi thành lập với thắng lợi ban đầu (hạ đồn Phai Khắt, Nà Ngần) cùng với 34 chiến sĩ đầu tiên, Đội Việt Nam tuyên truyền giải phóng quân ngày càng phát triển và được mở rộng, thành đại đội, rồi đại đội chủ lực đầu tiên của Quân đội ta… Đúng như Chủ tịch Hồ Chí Minh đã nhận định: tiền đồ của Đội Việt Nam tuyên truyền giải phóng quân rất vẻ vang, “nó là khởi điểm của giải phóng quân, nó có thể đi suốt từ Nam chí Bắc, khắp đất nước Việt Nam”.

Dưới sự lãnh đạo của Chủ tịch Hồ Chí Minh , Việt Nam giải phóng quân (do Đội Việt Nam tuyên truyền giải phóng quân và Cứu quốc quân hợp lại) đã cùng toàn dân vùng lên đấu tranh, giành thắng lợi trong cuộc Tổng khởi nghĩa tháng Tám 1945, lập nên Nhà nước Việt Nam Dân chủ Cộng hòa.

 

 

Bác với cán bộ chiên sĩ đơn vị 600 tại Na DDooroong, Trung Yên, Yên Sơn, Tuyên Quang

 

Đặc biệt, để tăng cường sức mạnh của đội quân cách mạng, Chủ tịch Hồ Chí Minh chú trọng bồi dưỡng đội ngũ cán bộ và nhấn mạnh yêu cầu “bộ đội được tổ chức chặt chẽ, tập luyện hẳn hoi, chuẩn bị chu đáo” thường xuyên, liên tục để đảm bảo sẵn sàng chiến đấu. Ngày một phát triển về số lượng và nâng cao trình độ tác chiến, tài thao lược trên các chiến trường, đồng thời vận dụng sáng tạo kinh nghiệm đánh giặc của cha ông“lấy ít địch nhiều, lấy nhỏ đánh lớn, lấy yếu chống mạnh”, Quân đội ta đã chuyển từ thế phòng ngự sang thế tiến công. Xuất phát từ thực tiễn, từ kinh nghiệm “biết địch, biết ta, trăm trận, trăm thắng”

Sau khi thành lập lực lượng Quân đội nhân dân Việt Nam, mặc dù bận rất nhiều việc, nhưng Chủ tịch Hồ Chí Minh vẫn trực tiếp thường xuyên chỉ đạo và dành những tình cảm đặc biệt cho lực lượng quân đội. Bác đặc biệt đề cao việc giáo dục rèn luyện và xây dựng củng cố đội ngũ. Sự quan tâm của Người đối với lực lượng vũ trang nhân dân thể hiện bằng những việc làm cụ thể, bình dị nhưng chứa chan tình cảm của vị Cha già dân tộc.

Qua 72 năm hình thành và phát triển, Quân đội nhân dân Việt Nam, dưới sự lãnh đạo của Đảng đã góp phần quan trọng trong sự nghiệp xây dựng và bảo vệ Tổ quốc Việt Nam xã hội chủ nghĩa xứng đáng với tên gọi "Bộ đội cụ Hồ".

 

 

Bác ăn cơm cùng Bộ đội  Hải Quân

 

Những lời dặn dò của Bác với Quân đội nhân dân Việt Nam

Hàng năm vào ngày thành lập Quân đội nhân dân Việt nam dù bận việc đến đâu Bác vẫn luôn dành thời gian viết thư động viên, thăm hỏi, khen ngợi những thành tích mà lực lượng Quân đội đạt được.

- Ngày 22 tháng 12 năm 1949, nhân kỷ niệm 5 năm Ngày thành lập lực lượng, Chủ tịch Hồ Chí Minh đã viết thư gửi bộ đội chủ lực, bộ đội địa phương và dân quân du kích. Người điểm lại quá trình phát triển của quân đội ta, từ nhóm du kích đầu tiên thành lập sau 5 năm đã trở thành một quân đội lớn mạnh. Người chỉ rõ: "Quân đội ta là quân đội nhân dân, do dân đẻ ra, vì dân mà chiến đấu, yêu nước yêu dân, cho nên hy sinh gian khổ. Quân đội ta luôn giữ gìn và phát huy truyền thống anh dũng của quân đội giải phóng Việt Nam và đạo đức cách mạng gồm trong 10 điều kỷ luật". 

- Ngày 22/12/1959, Chủ tịch Hồ Chí Minh gửi thư cho toàn thể CBCS nhân dịp 15 năm Ngày thành lập Quân đội nhân dân Việt Nam. Người khen ngợi quân đội ta trong 15 năm qua đã vượt mọi khó khăn, làm tròn nhiệm vụ và đã lập được nhiều thành tích vẻ vang và căn dặn tất cả cán bộ và chiến sĩ các lực lượng vũ trang nhân dân: "Phải không ngừng nâng cao trình độ chính trị, kỹ thuật và văn hoá, ra sức công tác và lao động, tăng cường sản xuất, thực hành tiết kiệm, góp phần xây dựng Chủ nghĩa xã hội; Phải trau dồi đạo đức cách mạng, đoàn kết, khiêm tốn, hết lòng vì Đảng, vì nhân dân; Phải nâng cao chí khí chiến đấu, luôn luôn sẵn sàng bảo vệ Tổ quốc, bảo vệ hoà bình".

Cùng ngày, Người tới dự buổi chiêu đãi kỷ niệm Ngày thành lập Quân đội nhân dân Việt Nam. Phát biểu tại buổi chiêu đãi, Người biểu dương: "Quân đội chúng ta anh hùng trong kháng chiến mà cũng anh hùng trong hoà bình" và nêu rõ có những thắng lợi và những thành công đó là nhờ sự giáo dục và lãnh đạo của Đảng, nhờ sự giúp đỡ của nhân dân. Vì vậy, cán bộ và chiến sĩ  "Không được tự mãn, không được tự kiêu. Trái lại, cần phải khiêm tốn, cần phải đoàn kết, cần phải ra sức thi đua học tập, học tập về chính trị, học tập văn hoá, học tập kỹ thuật".

 - Trong không khí phấn khởi kỷ niệm 20 năm Ngày thành lập Quân đội nhân dân Việt Nam. Tối ngày 22/12/1964, Chủ tịch Hồ Chí Minh dự chiêu đãi tại Bộ Quốc phòng và phát biểu tại buổi chiêu đãi, Người khen ngợi các lực lượng vũ trang đã lập nhiều thành tích trong chiến đấu, học tập và lao động sản xuất. Ca ngợi truyền thống chiến đấu và chiến thắng của quân đội ta, Người nói: "Quân đội ta trung với Đảng, hiếu với dân, sẵn sàng chiến đấu hy sinh vì độc lập, tự do của Tổ quốc, vì Chủ nghĩa xã hội. Nhiệm vụ nào cũng hoàn thành, khó khăn nào cũng vượt qua, kẻ thù nào cũng đánh thắng". Người còn khẳng định rõ: "Quân đội ta có một sức mạnh vô địch vì nó là quân đội nhân dân do Đảng ta xây dựng, Đảng ta lãnh đạo và giáo dục". Nguồn gốc của sức mạnh ấy là do cán bộ, chiến sĩ đoàn kết, quân dân đoàn kết. Người căn dặn cán bộ, chiến sĩ phải khiêm tốn, cố gắng hơn nữa, phải học tập quân và dân miền Nam anh hùng, phải nâng cao tinh thần cảnh giác sẵn sàng chiến đấu, đập tan mọi hành động và âm mưu của kẻ thù.

Nhân dịp kỉ niện 72 năm ngày thành lập Quân đội nhân dân việt Nam chúng tôi xin chia sẻ

Những lá thư, câu chuyện kể về “Bác với Bộ đội Việt Nam”

 

 Gửi các chiến sĩ quyết tử quân Thủ đô

Cùng các chiến sỹ yêu quý Trung đoàn Thủ đô,

“Các em ăn Tết thế nào? Vui vẻ lắm chứ? Tôi và nhân viên chính phủ vì nhớ đến các em nên cũng không ai nỡ ăn tết. Còn 90 phần trăm đồng bào ở hậu phương cũng giảm bớt 90 phần trăm mâm cỗ tiệc tùng, ai cũng dự bị cho công cuộc trường kỳ kháng chiến.

Các em là đội cảm tử. Các em cảm tử để cho Tổ quốc quyết sinh. Các em là đại biểu cái tinh thần tự tôn tự lập của dân tộc ta mấy nghìn năm để lại, cái tinh thần quật cường đó đã kinh qua Hai Bà Trưng, Lý Thường Kiệt, Trần Hưng Đạo, Lê Lợi, Quang Trung, Phan Đình Phùng, Hoàng Hoa Thám truyền lại cho các em. Nay các em gan góc tiếp tục cái tinh thần bất diệt đó, để truyền lại cho giống nòi Việt Nam muôn đời về sau.

Chí kiên quyết dũng cảm, các em đã sẵn có, đây tôi chỉ nhắc lại một vài điều mà các em phải nhớ luôn luôn:

1. Phải hết sức không khéo, nhanh chóng, bí mật, phải biết cách hóa chính vi linh (phân tán và sử dụng lực lượng một cách khôn khéo)

2. Phải rút kinh nghiệm hàng ngày hàng giờ. Phải đề phòng Việt gian trinh thám.

3. Phải hết sức cẩn thận. Phải luôn có sáng kiến để lợi dụng thời cơ.

4. Tuyệt đối đoàn kết.

Các em hăng hái tiến lên, lòng Già Hồ, lòng Chính phủ và lòng toàn thể đồng bào luôn ở bên cạnh các em.

Tôi thay mặt Chính phủ và đồng bào gửi cho các em lời chào thân ái và quyết thắng”.

Hà Nội, ngày 27 tháng 1 năm 1947

Hồ Chí Minh

In trong sách Lời Chủ tịch Hồ Chí Minh 
Nha Thông tin Việt Nam, 1948,t.1, tr 39

 

Gửi Báo vệ Quốc quân

Vệ quốc quân là quân đội của nhân dân, để bảo vệ đồng bào, giữ gìn Tổ quốc. Báo Vệ quốc quân là cốt để nâng cao tinh thần và kỷ luật của bộ đội. Báo Vệ quốc quân sẽ luôn luôn nêu 12 điều sau này, và khuyến khích mỗi một chiến sĩ phải theo mệnh lệnh cấp trên:

1. Mỗi việc đều phải theo mệnh lệnh cấp trên.

2. Tuyệt đối không đem của công dùng vào việc tư.

3. Không động đến một cái kim, một sợi chỉ của dân.

4. Khi đến đóng, lúc kéo đi, phải giữ gìn nhà, vườn của dân cho sạch sẽ.

5. Nói nǎng cử động phải giữ lễ phép, phải kính người già, yêu trẻ con.

6. Mua bán phải công bình.

7. Mượn cái gì phải trả tử tế.

8. Hỏng cái gì phải bồi thường.

9. Phải giúp đỡ dân bất kỳ việc to, việc nhỏ.

10. Trong bộ đội từ trên đến dưới phải đồng cam cộng khổ.

11. Chớ ve gái, say sưa, cờ bạc, hút xách.

12. Phải giúp đỡ gia đình chiến sĩ tại nơi mình đóng, phải giúp đỡ việc tǎng gia sản xuất.

Đó là nền tảng thắng lợi trong cuộc kháng chiến kiến quốc. Đó là nhiệm vụ chính của báo Vệ quốc quân.

Ngày 27 tháng 3 nǎm 1947

Hồ Chí Minh

In trong sách Lời Hồ Chủ tịch,
 Nha Thông tin Việt Nam, 1948, t.1, tr.63.

 

Gửi nam nữ chiến sĩ dân quân tự vệ và du kích toàn quốc

Tôi thay mặt chính phủ và toàn thể đồng bào gửi lời khen ngợi các chiến sĩ.

Dân quân, tự vệ và du kích là lực lượng của toàn dân tộc, là một lực lượng vô địch, là một bức tường sắt của Tổ quốc. Vô luận địch nhân hung bạo thế nào, hễ đụng vào lực lượng đó, bức tường đó, thì địch nào cũng phải tan rã.

Các chiến sĩ dân quân, tự vệ và du kích ở Nam Bộ, ở Thủ đô, ở miền duyên hải và ở các nơi, đã chứng rõ sự thực đó một cách rất anh hùng. Từ đây về sau, lực lượng ta càng ngày càng vững, kinh nghiệm ta càng ngày càng nhiều thì ta càng tỏ cho địch quân biết, tỏ cho thế giới biết rằng dân quân, tự vệ và du kích Việt Nam là những người ái quốc sắt đá, là những chiến sĩ anh hùng.

Nhưng chúng ta không tự mãn tự túc, không kiêu ngạo, chúng ta phải luôn luôn thực hành mấy điều này:

1. Trong bộ đội phải đồng cam cộng khổ. Phải giữ kỷ luật, phải siêng tập tành, phải giữ bí mật, luôn luôn cẩn thận, lúc có địch cũng trấn tĩnh như không địch, lúc xa địch cũng nghiêm ngặt như gần địch;

2. Đối với dân - phải bảo vệ dân, phải giúp đỡ dân, phải làm cho dân tin, dân phục, dân yêu;

3. Đối với công việc - phải lập làng kháng chiến khắp nơi, phải luôn tích cực hành động;

4. Đối với địch - phải kiên quyết, dũng cảm. Phải có kế hoạch, mưu trí, phải hữu tiến vô thoái, phải thi đua nhau trong việc sát giặc, cướp súng, v.v.. Song đối với tù binh thì phải ưu đãi họ.

Hỡi chiến sĩ yêu quý, tôi nhắc các chiến sĩ kiên quyết làm đúng những điều đó, tôi chắc trường kỳ kháng chiến nhất định thắng lợi, thống nhất độc lập chắc chắn sẽ thành công.

Chào thân ái và quyết thắng

Ngày 27 tháng 5 nǎm 1947

HỒ CHÍ MINH

In trong sách Lời Hồ Chủ tịch,

Nha Thông tin Việt Nam, 1948, t.1, tr.81-82.

 

Bác Hồ với chiến sĩ người dân tộc

Anh hùng La Văn Cầu, dân tộc Tày mãi mãi không quên bữa cơm của Bác "đãi" với rau, thịt gà… những "sản phẩm" do chính Bác  nuôi, trồng. Bác hỏi thăm mẹ Cầu, gửi quà cho mẹ, dặn cán bộ tạo mọi điều kiện để Cầu về thăm mẹ, giúp đỡ gia đình.

Nhiều chiến sĩ người dân tộc đã lấy họ Hồ cho mình  như Hồ Vai, Hồ Can Lịch, Hồ Văn Bột...

Mùa thu năm 1964, chị Choáng Kring Thêm - chiến sĩ người dân tộc Cà Tu, tham gia đoàn đại biểu Mặt trận Dân tộc Giải phóng miền Nam được ra miền Bắc, gặp Bác Hồ. Chị Thêm kể:

"Đoàn chúng tôi vừa bước xuống xe thì đã thấy Bác  đứng chờ ngay ngoài sân.

Bác ôm hôn thắm thiết các thành viên trong đoàn. Chúng tôi theo Bác  đến dãy bàn tiếp khách kê ngay ngoài vườn đầy hoa và nắng. Thấy tôi mặc bộ quần áo dân tộc, Bác nói:

- Cháu đúng là con gái dân tộc Cà Tu giữ được tính chất của dân tộc mình.

Chị Ngân, chị Cao gặp Bác, mừng quá khóc lên. Bác dịu dàng bảo:

- Các cháu gái đừng khóc. Gặp Bác phải vui chứ. Hai cháu hãy kể cho Bác nghe bà con ta ở tiền tuyến đánh Mỹ như thế nào?

Tôi thưa:

- Thưa Bác, cháu thương, cháu nhớ Bác. Tất cả đồng bào dân tộc miền Nam đều thương nhớ Bác.

Sau đó tôi kể Bác nghe một số chuyện chiến đấu của mẹ Giớn, anh Bên, em Thơ...

Bác nói:

- Cuộc kháng chiến của đồng bào miền Nam ta là toàn dân, toàn diện. Trẻ, già, gái, trai, Kinh, Cà Tu, Cà Tang và đồng bào các dân tộc khác đều sản xuất giỏi, chiến đấu giỏi".

Tôi hiểu đó là Bác dành tình thương mênh mông của Bác cho tất cả chúng ta. (ST)

Câu chuyện về ba chiếc ba lô

 

Trong những ngày sống ở Việt Bắc, mỗi lần Bác đi công tác, có hai đồng chí đi cùng. Vì sợ Bác mệtnên hai đồng chí định mang hộ ba lô cho Bác, nhưng Bác nói:

- Đi đường rừng, leo núi ai mà chẳng mệt, tập trung đồ vật cho một người mang đi thì người đó càng chóng mệt. Cứ phân ra mỗi người mang một ít.

Khi mọi thứ đã được phân ra cho vào 3 ba-lô rồi, Bác còn hỏi thêm:

- Các chú đã chia đều rồi chứ?

Hai đồng chí trả lời:

- Thưa Bác, rồi ạ.

Ba người lên đường, qua một chặng, mọi người dừng chân, Bác đến chỗ đồng chí bên cạnh, xách chiếc ba lô lên.

- Tại sao ba lô của chú nặng mà Bác lại nhẹ?

Sau đó, Bác mở cả 3 chiếc ba lô ra xem thì thấy ba lô của Bác nhẹ nhất, chỉ có chăn, màn. Bác không đồng ý và nói:

- Chỉ có lao động thật sự mới đem lại hạnh phúc cho con người.

Hai đồng chí kia lại phải san đều các thứ vào 3 chiếc ba lô.(St)

Bát chè sẻ đôi

Đồng chí liên lạc đi công văn 10 giờ đêm mới đến. Bác gọi mang ra một bát, một thìa con. Rồi Bác đem bát chè đậu đen, đường phèn, mà anh em phục vụ vừa mang lên, xẻ một nửa cho đồng chí liên lạc.

- Cháu ăn đi!

Thấy đồng chí liên lạc ngần ngại, lại có tiếng đằng hắng bên ngoài, Bác giục:

- Ăn đi, Bác cùng ăn...

Cám ơn Bác, đồng chí liên lạc ra về. Ra khỏi nhà sàn, xuống sân, đồng chí cấp dưỡng bấm vào vai anh lính thông tin:

- Cậu chán quá. Cả ngày Bác có bát chè để bồi dưỡng làm đêm mà cậu lại ăn mất một nửa.

- Khổ quá, anh ơi! Em có sung sướng gì đâu. Thương Bác, em vừa ăn vừa rớt nước mắt, nhưng không ăn lại sợ Bác không vui, mà ăn thì biết cái chắc là các anh mắng mỏ rồi. (ST)     

     

Chú còn trẻ chú vào hầm trước đi

 

Một ngày tháng 7 năm 1967 ở Hà Nội, đồng chí Mai Văn Bộ được Bác Hồ gọi đến mời cơm tiễn chân trước khi đồng chí lên đường đi Paris nhận nhiệm vụ Tổng đại diện Chính phủ ta bên cạnh Chính phủ Pháp.

Trong bữa cơm, Bác kể chuyện về khu Luýc-xăm-bua, Mông-pac-nát, nơi Bác có nhiều kỷ niệm. Bác nói Bác rất yêu Paris, Paris đã dạy cho Người nhiều điều...

Bỗng tiếng còi báo động rú lên. Một chiến sĩ bảo vệ yêu cầu Bác và các đồng chí khác xuống hầm. Ít phút sau đã nghe tiếng đạn nổ.

- Thưa Bác, tác chiến báo cáo chúng nó đánh cầu Long Biên. Mời Bác vào hầm trú ngay cho.

Bác quay lại đồng chí Bộ, nói:

- Bác già rồi, chẳng bom đế quốc nào ném đâu. Chú còn trẻ, chú cần vào hầm trú ẩn trước.

Rồi Bác đẩy đồng chí Bộ đi trước, sau đó đến đồng chí Phạm Văn Đồng, đồng chí cảnh vệ.

Bác là người vào hầm trú ẩn sau cùng.(St)

Nước nóng, nước nguội

 

Buổi đầu kháng chiến chống Pháp, có một đồng chí cán bộ trung đoàn thường hay quát mắng, đôi khi còn bợp tai chiến sỹ. Đồng chí này đã từng là giao thông, bảo vệ Bác đi ra nước ngoài trước Cách mạng Tháng Tám.

Được tin nhân dân “dư luận” về đồng chí này, một hôm, Bác cho gọi lên Việt Bắc. Bác dặn trạm đón tiếp khu ATK, dù có đến sớm, cũng giữa trưa mới cho đồng chí ấy vào gặp Bác.

Trời mùa hè, nắng chang chang, đi bộ đúng ngọ “đồng chí Trung đoàn” vã cả mồ hôi, người như bốc lửa.

Đến nơi, Bác đã chờ sẵn. Trên bàn đã đặt hai cốc nước, một cốc nước sôi có ý chừng vừa như mới rót, bốc hơi nghi ngút, còn cốc kia là nước lạnh.

Sau khi chào hỏi xong, Bác chỉ vào cốc nước nóng nói:

- Chú uống đi.

 Đồng chí cán bộ kêu lên:

- Trời! Nắng thế này mà Bác lại cho nước nóng làm sao cháu uống được.

Bác mỉm cười:

- À ra thế. Thế chú thích uống nước nguội, mát không?

- Dạ có ạ.

Bác nghiêm nét mặt nói:

- Nước nóng, cả chú và tôi đều không uống được. Khi chú nóng, cả chiến sĩ của chú và cả tôi cũng không tiếp thu được. Hoà nhã, điềm đạm cũng như cốc nước nguội dễ uống, dễ tiếp thu hơn.

Hiểu ý Bác giáo dục, đồng chí cán bộ nhận lỗi, hứa sẽ sửa chữa…(St)  

             

Chú ngã có đau không?

Vào đầu năm 1954, tiết trời đã sang Xuân, nhưng ở Việt Bắc vẫn còn rét. Gió bấc thổi mạnh, mưa phùn lâm râm gây nên cái lạnh buốt, Bác vẫn làm việc rất khuya. Bác khoác chiếc áo bông đã cũ, miệng ngậm điếu thuốc lá thỉnh thoảng lại hồng lên, tiếng máy chữ lách tách, lách tách đều đều…

Trời lạnh, nhưng được đứng gác bên Bác, tôi thấy lòng mình như được sưởi ấm lên. Tôi nhẹ bước chân đi vòng quanh lán. Một lần vừa đi, vừa nghĩ, tôi bị thụt chân xuống một cái hố tránh máy bay. Tôi đang tìm cách để lên khỏi hố, chợt nghe có tiếng bước chân đi về phía mình. Có tiếng hỏi:

- Chú nào ngã đấy?

Chưa kịp nhận ra ai, thì tôi đã thấy hai tay Bác luồn vào hai nách, chòm râu của Bác chạm vào má tôi. Tôi cố trấn tĩnh lại để nói một lời thì giật mình khi thấy Bác không khoác áo bông, Bác đi tất, một chân có guốc, một chân không, nước mắt tôi trào ra. Vừa kéo, Bác vừa hỏi:

- Chú ngã có đau không?

Bác sờ khắp người tôi, nắn chân, nắn tay tôi. Rồi Bác nói:

- Chú ngã thế đau lắm. Chú cứ ngồi xuống đây bóp chân cho đỡ đau. Ngồi xuống! Ngồi xuống!

Tôi bàng hoàng cả người, không tin ở tai mình nữa. Có thật là Bác nói như vậy không! Bác ơi! Bác thương chúng cháu quá!

Tôi trả lời Bác:

- Thưa Bác, cháu không việc gì ạ. Rồi tôi cố gắng bước đi để Bác yên lòng.

Bác cười hiền hậu và căn dặn: “Bất cứ làm việc gì chú cũng phải cẩn thận”. Rồi Bác quay vào.

Tôi đứng nhìn theo Bác cho đến lúc lại nghe tiếng máy chữ của Bác kêu lên lách tách, đều đều trên nhà sàn giữa đêm Việt Bắc.(St)

Phòng NV



Lượt xem: 690 views
Xem tin theo ngày:     Tháng:    Năm: